|
BẮT QUẢ TANG, BẮT TẬN TAY, DAY TẬN MẶT
(Caught red-handed: bắt lúc tay còn dính máu)
Một tội danh thường thấy thời trước (a common felony of the past) là việc bắt trộm và giết thịt (butchering) lợn, cừu, bò của người khác. Nhưng theo hình luật (legal codes), chỉ riêng việc sở hữu thịt tươi (fresh meat) của những con vật vừa bị trộm thôi thì chưa đủ chứng cứ để cấu thành tội phạm (not constitute proof of crime). Chỉ khi nào bắt được tên trộm với đôi bàn tay còn đẫm máu con vật, người ta mới có thể truy tố hắn.
Và một khi đã bị bắt với bàn tay còn bê bết máu (caught red-handed) như vậy, thì có van xin mấy cũng vô ích, hình phạt sẽ nặng vô cùng. Thế nhưng bọn đầu trộm đuôi cướp đâu có biết sợ. Chúng cứ đi trộm trâu, bò, dê, lợn đến chừng nào bị caught red-handed thì thôi. Thế là cụm từ này biến thành quán ngữ, được sử dụng mãi đến bây giờ. Người ta có thói quen dùng cụm từ này khi phát hiện ra tại chỗ bất cứ hành vi ám muội nào (detection of an act of stealth), dù hành vi ấy có bị luật pháp quy tội hay không.
(N.V.L – VIETNAMEDU sưu tầm)
|