|
Do khả năng hạn chế, không thể tự viết một giáo trình theo ý muốn - phù hợp với xu thế hiện đại và trình độ sinh viên - nên trong nhiều năm, tôi buộc phải dùng những giáo trình có sẵn trên thị trường sách Anh Mỹ. Cái thuận lợi là những giáo trình này được viết tương đối gọn và chính xác, với bố cục triển khai hợp lí trong một khoảng thời gian thích hợp với lượng thời gian được phân bổ cho môn học này ở từng năm. Người giảng viên có thể dạy khá dễ dàng, với điều kiện người này có hiểu biết về tiếng Anh, có ‘nền’ NNH và có tìm tòi học hỏi. Người giảng viên có thể tạm thời yên tâm nội dung của giáo trình là ‘đúng đắn’ và sinh viên ta có thể tiếp thu với sự hướng dẫn, giải thích của giảng viên.
Tại sao ‘tạm thời’? Vì rõ ràng là rất nhiều khái niệm NNH đưa vào những giáo trình có tính chủ quan và không thật sự ‘cập nhật’.
• (a)Tính chủ quan: Người soạn giáo trình, có thể rất thận trọng, vẫn để lộ ở chỗ này, chỗ kia khuynh hướng , niềm tin, thái độ sư phạm riêng.
Thí dụ : Trong cuốn Language, Its Structure and Use của Finegan, 1994, khi nói về ‘nghĩa chỉ định’ (referential meaning) đã phát biểu ‘…the meaning of a word or sentence is the person, object, abstract notion, state, or event to which the word or sentence makes reference’ tr.158, định một quan hệ trực tiếp giữa từ/câu và vật thể/sự việc. Trong khi đó, nếu theo quan điểm của những nhà NNH sau này (từ thập niên 90 tới nay) - trường phái NNH tri thức (cognitive linguistics với Croft, Fauconnier, Langacker, …) thì nghĩa phải được hiểu là ‘concepts in the mind of the speaker rather than, directly, to entities which inhere in an objectively real external world’. (Xem V. Evans, B. K. Bergen, J. Zinken, The Cognitive Linguistics Enterprise, 2006, tr. 10-11). Về cú pháp, trong các giáo trình, người soạn thường chịu ảnh hưởng của lí thuyết Tạo Sinh (Generative Grammar) chú trọng nhiều đến ‘dạng thức’ (formalism) gói gọn trong cú pháp, kể cả những tác giả mà tôi cho là đặc sắc như Radford (Tranformational Grammar, 1988). Nếu có sự ‘vươn’ ra với ngữ nghĩa thì còn chưa rõ nét. Trong khi đó, trong NNH tri thức thì biên giới giữa cú pháp và ngữ nghĩa đã ‘nhoà’ đi. (Xem W. Croft, Construction Grammar, 2002).
• (b) Tính không cập nhật : Người giảng viên thật áy náy vì trong quá trình giảng dạy lại biết chắc rằng giáo trình không thật sự cập nhật, kể cả những giáo trình xuất bản vào những năm gần đây. (Xem William O’Grady và một số tác giả, Contemporary Linguistics, Bedford/St.Martin’s, 2001; George Yule, The Study of Language, Cambridge U. Press, 2006; Ralph W, Fasold, Jeff Connor-Linton chủ biên, An Introduction to Language and Linguistics, Cambridge University Press, 2006).
Việc đưa những quan điểm mới hơn vào giáo trình còn không rõ nét vì những lí do khác nhau khiến giảng viên dễ dàng bỏ qua. Để ‘sửa sai’, được gợi ý là bổ sung bài giảng bằng những tài liệu đọc thêm. Đây là một việc tốt thường làm ở các đại học nước ngoài, nơi tiếng Anh được dùng rộng rãi, sinh viên có khả năng đọc và tiếp thu thông tin chuyên môn bằng tiếng Anh. Nhưng ở đại học ta, ngoài một số ít sinh viên có khả năng trên, phần đông còn yếu ngoại ngữ không làm nổi việc này. Đây là một trở ngại lớn.
Một gợi ý khác là bổ sung bài giảng bằng những bài giảng phụ bằng tiếng Anh hay Việt, để đảm bảo cho người sinh viên phần nào nắm bắt được những khuynh hướng mới trong NNH. Hay cứ truyền đạt cho sinh viên một cái ‘nền’ khiêm tốn (dựa trên những giáo trình còn chưa cập nhật). Nếu sinh viên học cao lên sẽ có cơ hội tiếp thu những quan điểm NNH ‘mới’ hơn. Điều cần quan tâm là trong cái ‘nền’ cần được giới thiệu những ‘cái mới’. Nếu không sẽ có những sự lệch hướng, cản trở. Trên đây là những cảm nghĩ của người viết, không đủ khả năng soạn những giáo trình NNH Anh ‘hợp thời’. Mong được chia sẻ với quý thầy cô giảng dạy môn này trong các đại học cả nước.
(Theo Th.S Tạ Tất Thắng - Trường ĐH Dân Lập Yersin Đà Lạt)
|